PDA

View Full Version : Đức Trần Triều


kieunguyetnga
04-03-2012, 11:16 PM
Đức Đại Vương Trần Triều


Trong đạo Mẫu, Đức Thánh cha là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị tướng tài ba của Việt Nam và thế giới, văn võ song toàn, tinh anh kiệt xuất. Là người có công lớn nhất triều Trần trong ba lần đánh bại quân Mông Nguyên.

Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông là con An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tôn là chú ruột, sinh ngày 10/12 âm lịch. Còn có truyền thuyết kể lại rằng, nguyên xưa kia Đức Thánh Tản Viên thấy luồng khói trắng bay từ núi Tây hóa thành tinh thuồng luồng, xuống nhà người đàn bà kia tư thông, ngài nghĩ ắt hẳn đó sẽ đầu thai thành kẻ gây hậu họa cho nhân gian (tên đó sau này chính là Phạm Nhan_Nguyễn Bá Linh, cha là người Tàu Phúc Kiến, mẹ là người Đông Triều, nằm mơ thấy tinh thuồng luồng mà sinh ra hắn), vậy nên Đức Thánh Tản liền đem tâu chuyện đó với Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng hỏi rằng ai có thể xuống hạ phàm để trừ diệt mối hậu họa đó thì có Thanh Tiên Đồng Tử tình nguyện xin xuống phàm để giúp dân. Ngọc Đế ưng thuận sai ban thần kiếm, cờ ấn, tam tài của Lão Tử, ngũ bảo của Thái Công rồi truyền Kim Đồng Ngọc Nữ hộ giá xe mây xuống nước Nam hạ phàm. Liền đó Vương Mẫu nằm mơ thấy có người áo xanh tự xưng là người của Thiên Đình xuống đầu thai phù đời, từ ấy bà hoài thai, đủ ngày đủ tháng thì hạ sinh được ông, trong nhà ngào ngạt hương thơm và ánh sáng. Vậy nên, trong bản văn cũng có đoạn:

Vương Phụ là Đức An Sinh
Cùng Đức Thánh Mẫu cầm lành hợp duyên

Điềm lành vốn tự thiên nhiên

Thanh Tiên Đồng Tử phút liền đầu thai Chí kì sinh đặng con trai Tài kiêm văn võ ít ai sánh bằng"

Sau này ông giúp vua Trần hai lần chống giặc Nguyên Mông, ông sinh được bốn người con trai (thường gọi là tứ vị vương tử) và hai người con gái (thường gọi là nhị vương cô hay nhị vị vương bà) đều có công lao giúp vua Trần chống giặc Nguyên, ngoài ra trong công cuộc “Sát Thát” còn có rất nhiều đóng góp của vương tế của ông là Phạm Ngũ Lão Điện Súy (thường gọi là Đức Thánh Phạm Điện Súy hay Phù Ủng Đại Vương) cùng các tướng tài của ông như: Dã Tượng, Yết Kiêu (thường gọi là đôi bên Đức Ông Tả Hữu)… Có thể nói trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần, có công đóng góp không nhỏ của gia đình ông. Hơn nữa ông còn là người một lòng vì nước vì dân, vì nghĩa lớn mà quên đi mối thù nhà: ông không nghe lời cha giành lại ngai vàng từ tay vua Trần, vậy nên được vua Trần nể trọng, tin tưởng, thường hỏi ý kiến ông về những việc đại sự quốc gia. Ông mất vào ngày 20/8 âm lịch.

Sinh thời, do công lao lớn của mình ông được vua Trần phong là Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương hay là Đức Thượng Từ. Vua Trần Anh Tông ( xét về thứ bậc thì vừa là cháu lại là cháu rể của ông, vì vua lấy Cô Bé Cửa Suốt_Tĩnh Huệ Công Chúa tức là cháu gái của ông) phong ông là Đức Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc đại nguyên soái Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương (tước hiệu này nếu xét theo thời đại của chúng ta thì sẽ là: Ủy viên bộ chính trị, bí thư quân ủy trung ương, Nguyên Súy, Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Sau này , khi mất đi tên tuổi ông vẫn vang lừng không chỉ trong Việt Nam mà còn lan ra toàn thế giới (ông là một trong số 10 vị tướng tài ba nhất trên thế giới, cùng với các vị như Nã Phá Luân (Napoleon), Thành Cát Tư Hãn... là những người có ý nghĩa to lớn với lịch sử thế giới ), người ta tôn làm Đức Thánh Trần. Còn trong tín ngưỡng dân gian, người ta thường tôn danh ông là Đức Thánh Ông Trần Triều hay ngắn gọn hơn là Đức Ông Trần Triều.

Nếu một người có căn số hầu các giá nhà Trần thì giá Đức Ông có thể là giá mở khăn đầu tiên (vì Tam Tòa Thánh Mẫu không tung khăn), tuy nhiên cũng khá hiếm khi có người hầu về Đức Ông mà chỉ khi đại sự cần thỉnh ông về để trừ tà sát quỷ thì mới hầu ông (vì theo quan niệm cổ: “bóng” Đức Ông khá nặng nên không phải đồng cựu đã đội lệnh nhà Trần thì không thể hầu được) hoặc khi đại tiệc mở phủ thường thỉnh ông về chứng đàn Trần Triều (gồm voi, ngựa, thuyền rồng, tráp áo...) hoặc đồng mới tạ phủ và làm lễ đội lệnh nhà Trần. Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ, thêu rồng và hổ phù (có một số nơi hầu ông, chân đi hia, đầu đội mũ trụ), có thể mặc áo choàng bên ngoài, một số vùng hầu ông thường múa thanh đao. Khi về đồng, Đức Thánh Ông thường làm phép để sát quỷ trừ tinh (điều này chỉ có đúng đồng nhà Trần, có đội lệnh mới có thể làm như thế khi hầu ông) đó là: “lên đai thượng”nghĩa là cầm dải lụa đỏ thắt cổ (khi thắt vào cổ, mặt người hầu thường bạnh ra, đỏ,thì thế mới là thật đồng), lúc này người hầu dâng phải khéo léo móc một ngón tay vào dây thắt cổ để cho dãn bớt (vì dù là thật đồng nhưng Đức Thánh Ông chỉ giáng li giáng lai trên đầu đồng);“rạch lưỡi” nghĩa là dùng con dao hay vật nhọn rạch vào lưỡi người hầu để lấy máu (gọi là Đức Ông ban “dấu mặn”) sau đó phun ra tờ giấy phù hoặc rượu, có người xin giấy phù mang về để hộ thân trừ tà, có người bị tà mà quấy nhiễu lại xin rượu có máu, uống để trục tà; ngoài ra còn có uống dầu sôi, nung nóng bàn cuốc rồi đặt chân lên…

Tuy nhiên, hiện nay, các lối hầu cổ như vậy đã ít dần, chỉ còn một số người khi hầu Đức Đại Vương Trần Triều là có thể làm như vậy. Làm như thế người ta gọi là làm phép nhà Trần ra uy, vậy nên văn hát giá Đức Thánh Ông Trần Triều có một số đoạn như:

“Thánh Ông có lệnh truyền ra
Các quan thủy bộ cùng là chư dinh
Hô vang trấn động Nam thành
Đánh Đông dẹp Bắc tung hoành mọi nơi”

Hay khi Đức Ông về ra uy tróc tà (lên đai thượng hay rạch lưỡi ban dấu mặn) người ta cũng hát rằng:

“Phép ông đôi má thu phình
Lưỡi thời lấy huyết quyết linh thần phù”

Do quan niệm dân gian nên khi có tà mà dịch bệnh người ta thường cầu đảo Đức Thánh Trần để sát quỷ trừ tà, nhất là phụ nữ bị bệnh về sản khoa (theo dân gian, phụ nữ bị bệnh sản khoa là do quỷ Phạm Nhan gây ra, mà Đức Ông lại là người đã chém đầu quỷ Phạm Nhan); ngoài ra có câu chuyện còn kể rằng nếu có giặc dã, vào đền xin Đức Ông mà thấy tráp kiếm có tiếng kêu bên trong thì nhất định là thắng lớn.



Đền thờ Đức Thánh Ông Trần Triều cùng với gia đình và tướng lĩnh của ông được nhân dân lập lên ở khắp nơi nhưng uy nghiêm và nổi tiếng nhất phải kể đến: Đền Kiếp Bạc ở Chí Linh, Hải Dương, được lập lên trên nền dấu tích ở nơi mà năm xưa ngài cho đóng quân doanh Vạn Kiếp, sau đó phải kể đến hai ngôi đền ở đất Nam Định, nguyên quán của ngài, đó là Đền Cố Trạch (Đền Trần) và Đền Bảo Lộc, đều thuộc Thiên Trường, Nam Định. Ngoài ra còn có Đền Phú Xá ở Hải Phòng (tương truyền là nơi đóng quân nghỉ chân năm xưa)

Ngày tiệc Đức Thánh Trần thường được tôn là ngày “giỗ Cha” của toàn thể dân tộc Việt Nam vào ngày 20/8 âm lịch (là ngày Đức Ông hóa) và được tổ chức long trọng nhất tại đến Kiếp Bạc. Ngoài ra vào giữa đêm ngày 14/1 âm lịch còn có tổ chức ban ấn của Đức Thánh Trần tại Đền Bảo Lộc.


Theo: http://hatvanvn

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:36 PM
Các vị được thờ trong nhà Trần


1. Vương phụ - vương mẫu
2. Đức đại vương chính cung
3. Vương phi phu nhân
4. Thày dạy văn
5. Thày dạy võ
6. Quan Nam Tào
7. Quan Bắc Đẩu
8. Đức thánh Cả
9. Đức phó tằng
10. Đức thánh đệ tứ
11. Đức tiên cô đệ nhất Quốc Mẫu
12. Đức tiên cô đệ nhị Đại Hoàng
13. Lục Bộ Đức Thánh Ông Gồm :
- Điện Tiền Phò Mã Phạm Tướng Quân
- Tả Yết Kiêu tướng quân
- Hữu Dã Tượng tướng quân
- Nghi Xuyên tướng quân
- Hùng Thắng tướng quân
- Huyền Do tướng quân
14. Đức Thái Bình công chúa
15. Đức Trần Bình Trọng

Cùng chư quan tướng hạ ban Ngũ hổ tướng quân. Đức ông đệ tam được tính trong nhà Trần nhưng không được thờ ở các phủ chính
“Sống Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc” đây là 3 nơi chính thờ nhà Trần.


Lễ bán khoán, đội lệnh

- Lễ bán khoán:
Tu thiếc kim ngân lễ vật chay mặn, mời pháp sư thỉnh lễ rồi xin âm dương đổi họ tên cho hài tử, vào khoán nếu có đạo trưởng hầu nhà Trần, không thì pháp sư tuyên khoán. Đức thánh về đảo tên đổi họ.

- Lễ đội lệnh:
Tu thiếc lễ nghi kim ngân tài mã chay mặn, pháp sư lễ thỉnh. Sau đó đạo trưởng cho trùm khăn vào tín chủ, đặt mâm lệnh lên đầu. Trên mâm có vàng, trầu cau, vở bút, chè thuốc, tiền dương, “lệnh”. Pháp sư thỉnh hội đồng trần triều, tam vị đức ông, lục bộ khâm sai, ngũ hổ đại tướng sau đó xin âm dương giải đồng. Sau khi đội lệnh tạ yên vị trăm ngày là hầu được. Nếu về tôn nhanh lập tĩnh thì đồng thày hầu giá đại vương rồi đệ tử hầu. Khi bách nhập yên vị thày hầu một lần nữa. Từ đó trở đi là được phép làm bùa dẫn, bắt tà. Đa số những người làm về nhà Trần phải là pháp sư có sắc về phủ lục hoặc hiểu biết về chữ về pháp.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/le-ban-khoan-oi-lenh.html#ixzz1oFlX5wEK

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:41 PM
Thức Lễ Nhà Trần

Vàng mã nhà Trần không được quy định như bốn phủ vì không có nợ hay mở phủ nhà Trần. Chỉ cần chục vàng lá, trăm vàng đại thiếc là hành lễ được. Nếu tiến cúng nhà Trần để xin binh xin quyền thì có 3 đàn để tiến cúng
• Đàn tiểu: dâng từ 1 đến 6 ngựa đỏ (1 Đức đại vương, 4 vị hoàng tử, 1 Đức ông phò mã)

• Đàn trung: 6 đến 8 ngựa đỏ, 1 kiệu rồng 1 voi vàng hoặc trắng, 1 thuyền rồng đỏ, 60 người lính năm phương năm màu (1 ngựa, 1 voi, 1 kiệu dâng Đức ông; 4 ngựa dâng Tứ vị hoàng tử, 2 ngựa dâng Đức ông tả hữu,1 ngựa dâng Đức ông phò mã, thuyền rồng dâng cô Đệ nhị Đại Hoàng)

• Đàn đại: ngũ phương binh tướng (ngũ phương binh lực), Đức đại vương dâng 1 long mã đỏ, 1 thuyền rồng đỏ, 1 kiệu vàng, 1 bạch tượng; Tứ vị hoàng tử dâng 4 ngựa đỏ, 4 voi vàng, 4 thuyền rồng; Đức ông phò mã dâng 1 ngựa đỏ; Đức ông tả Yết Kiêu dâng 1 ngựa đỏ, Đức ông hữu Dã Tượng dâng 1 voi đen; cô Đệ nhất 1 xe loan; cô Đệ nhị 1 phượng cát, 1 thuyền rồng vàng, 1 voi vàng; Lục bộ binh tướng khâm sai dâng 6 tướng cưỡi ngựa đỏ cắm cờ năm màu. Đông phương 12 đội quân, mỗi đội 12 lính mặc áo xanh cưỡi ngựa cầm kiếm, 1 vị tướng cưỡi ngựa đứng đầu cắm cờ xanh. Nam phương màu tím, Bắc phương màu đỏ, Tây phương màu trắng, Trung phương màu vàng, Tiền binh màu đỏ, Hậu binh màu đen, tất cả đều số lượng như trên.

Ngoài ra ở Trung phương còn thêm 6 đội binh (12 quân) cầm trung tiễn, 6 đội quân cầm giáo, 6 đội quân cầm kiếm, 1 tướng cưỡi ngựa vàng cắm cờ vàng; Nam phương các binh đều cưỡi voi đen và 1 tướng đi đầu cưỡi voi đen cắm cờ đen; Bắc phương các tướng ẩn xe hỏa và bắn pháo, đi đầu là xe ngựa trên có lốt tướng cắm cờ đỏ; Tây phương các binh đứng trên thủy xa, mỗi tướng đứng trên thuyền rồng trắng cắm cờ trắng; Tiền binh mỗi đội đều gồm 4 xe ngựa, trên mỗi xe 3 lính, 1 tướng ngồi trên xe; Hậu binh các đội đều cưỡi ngựa, 1 tướng ngồi trên ngựa cắm 5 loại cờ. Ba đội binh thượng Nùng, Tày, Mường mỗi đội gồm 6 tiểu đội đi thuyền độc mộc, 6 tiểu đội đi mảng, 6 tiểu đội cưỡi ngựa, 6 tiểu đội bộ binh, 5 lốt tướng giả hổ (đầu hổ mình người), 100 cờ lệnh các màu, 3 mũ Bình thiên tam phủ, 1 mũ Ngọc Hoàng vàng, Nam Tào tím, Bắc Đẩu đỏ, 1 hành khiển, 1 hành binh (màu sắc tùy theo năm đó), mũ đương cảnh thành hoàng (tùy địa phương), mũ Đức ông, Tứ vị hoàng tử, Đức ông phò mã, Lục bộ đức thánh (tất cả đều màu đỏ), 1 mũ thày văn đỏ, 1 mũ thày võ đỏ, 3 mũ phượng màu đỏ, vàng, vàng dâng Vương phi va 2 cô, 17 mũ quan văn, 17 mũ quan võ các màu, 36 mũ rừng man di bộ tướng, 36 cờ tiễn thêu rồng, 36 cờ thần để không, 8 cờ bát quái in các quẻ, 5 cờ ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ, 5 cờ hỏa tiễn năm màu thêu chữ “lệnh”, 36 cờ khải hoàn thêu chữ “thái bình”.
Trên đây là mã tối thiểu đến tối đa dâng nhà Trần, ngoài ra còn thêm 100 xe lương, 100 kho lương, 100 núi vàng.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/thuc-le-nha-tran.html#ixzz1oFm6QP92

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:44 PM
Lễ nhà Trần

1. Lễ cầu an dân quốc
Tiến lễ - Dân tự cầu lễ
Trung lễ - Quan dân cùng làm lễ
Đại lễ - Toàn vua, quan, dân chúng làm lễ

2. Lễ bảo an gia đình
Xin bùa dấu trấn tà trị bệnh

3. Lễ tam phủ đối kháng giải nghiệp
Giải nghiệp ngục tù báo trướng bệnh hạn, vận hạn…
Trước đó:
- Lễ phát tấu
- Lễ phật
- Tụng kinh
- Lễ nhà Trần
- Lễ Mẫu
- Lễ hạ ban Ngũ hổ và các quan


Lễ tam phủ đối kháng như sau:
Thiên phủ tức “thanh thiên” trời xanh
Địa phủ tức “bạch địa” đất trắng
Thủy phủ tức “xích thủy” nước đỏ

Tự nhiên trời là xanh, tính trong của đất là trắng, cốt huyết của thủy là đỏ, vì vậy ở đây tất cả phủ thiên là màu xanh, phủ địa màu trắng, phủ thoải màu đỏ.

Mỗi phủ 3 quyển vở, 3 cái bút, 3 cái gương, 3 cái lược, 3 cái quạt, 3 quả cau, 1 đĩa hoa, 1 đĩa gạo muối, 1 đĩa tiền, 1 bao thuốc, 1 lạng chè, 1 bao diêm, 1 lọ nước hoa, 3 khăn mặt bông, 1 bó đuốc, 5 nén hương phủ, 9 hoặc 7 quả trứng thuộc vía, 1000 vàng đại, 1000 vàng tiểu, 1 cầu giấy, 1 gáo, 1 chum, 1 bát con, 1 cây trồng, 1 con chim trắng (thiên phủ) gà trắng (địa phủ) cá chép (thoải phủ), 1 cờ xanh (thiên phủ) cờ trắng (địa phủ) cờ đỏ (thoải phủ). Mỗi phủ đều có 1 cành phan, 1 dao, 1 kéo, 1 ngọn đèn dầu.

Pháp sư làm lễ (không có đạo trưởng dẫn trình).
Sau khi pháp sư làm lễ ??? khi lễ đến thiên phủ thì pháp sư xin đài cài cờ thiên phủ vào gáy rồi dùng kiếm lệnh khai phủ. Lấy một quả trứng, dùng kéo cắt hai đầu xoắn, sau đó bóc trứng ra đặt vào bát con rồi lấy hương thả vào bát, lấy gáo múc nước tưới vào trứng 3 lần, miệng đọc khẩu quyết: “Thỉnh thiên phủ cắt dây cởi trói, cắt giải oan khiên nghiệp chướng cho sinh nhân …… tuổi ……. được thần khí lai hoàn, bản mệnh khang cường, phúc thọ khang ninh. Nguyện chú các linh hồn oan gia cừu thù tiên tổ tốc thoát tà ma siêu sinh cực lạc. Nam mô giải oan kết bồ tát ma ha tát. Nam mô hoan hỉ bố tát ma ha tát”.

Đốt đuốc phóng lên thiên phủ. Pháp sư dùng kéo cắt dây hình nhân thiên phủ, dùng gương lược, hương, khăn mặt, quạt khai quang phủ thiên và hình nhân cho trồng cây thiên phủ báo ân, tha chim giải nghiệp. Cho sinh nhân uống nước thiên phủ và rửa mặt.
Phủ địa và thoải cũng làm như vậy.

Sau khi hết ba phủ thì thỉnh lễ nhà Trần. Pháp sư dùng kéo cắt dây cởi trói hình nhân bản mệnh, khai quang làm lễ. Pháp sư khai quang ngựa mã sau đó hỏa hóa kim ngân tài mã.
Thày đại tấu dẫn trình

Sau khi pháp sư cúng thỉnh các khoa giáo thì thầy đại tấu thay xiêm y vào hành đạo. Trước khi hành đạo dùng dây vải buộc tay các hình nhân thiên địa thoải vào nhau, cắt 1 áo vải trước viết chữ “tù” sau viết chữ “ngục”, đằng trước bên phải viết họ tên, tuổi, ngày sinh, giờ sinh của sinh nhân. Đặt sinh nhân nằm ngửa mặt, đầu quay vào đền, chân ra cổng, trói sinh nhân chéo vòng cổ sang hai tay. Xung quanh hình nhân là 7 hoặc 9 đĩa sành úp, trên đầu hình nhân là 3 ngọn đèn dầu. Trước 3 ngọn đèn dầu là 1 chum nước bịt giấy, trên chum nước úp 1 chiếc đĩa sành, bên cạnh là chiếc áo của sinh nhân.

Để 1 cái ghế ngang chum nước phía tay phải nhìn từ ngoài vào trong. Thày đại tấu hầu tráng bóng 3 giá Mẫu, sau đó hầu Đức đại vương hoặc tứ vị hoàng tử. Ngài về làm lễ khai quang kiểm soát đầu phủ. Chừng xa loan giã ngự long mã, bạch tượng. Sau đó Ngài ngự ghế nghe tuyên trạng rồi Ngài phê trạng ký sổ. Ngài dùng 3 hiến hương thư vào chum “tứ trung ngũ hành” và chữ “tâm” sau đó dùng kiếm hất đĩa xuống sao cho đĩa vẫn úp. Ngài dùng chân dẫm tan đĩa, dùng kiếm khai giếng ngọc (giếng sinh nhân để cải tử hoàn sinh chứ không phải giếng phủ). Ngài lấy nước vẩy vào hình nhân và cho sinh nhân uống, rửa mặt. Sau đó xe giá hồi cung. Cô đệ nhị Đại Hoàng về chứng lễ chứng sớ long mã, bạch tượng; dùng kéo cắt bỏ dây bỏ dây trói tù ngục của người hình nhân bản mệnh.

Quan đệ nhất về khai quang chứng voi xanh, ngựa xanh, thuyền xanh. Ngài ngự vào ghế bên phải pháp sư tuyên trạng kể tội, phê sớ giải nghiệp, sau đó lấy cờ thiên phủ cắm vào gáy, dùng kiếm khai thiên phủ làm như pháp sư. Chỉ có khẩu quyết là pháp sư cung văn đọc, tứ trụ kêu. Ngài ra chỗ hình nhân bản mệnh dùng kiếm thư vào 2 hoặc 3 đĩa úp cạnh hình nhân chữ tâm, rồi dùng chân dẫm tan đĩa. Ngài hô to một tiếng “thừa lệnh thiên phủ khai phá thiên ngục giải thoát sinh nhân bất đắc cừu đình cấp như luật lệnh”. Sau khi phá ngục, thắp một ngọn đèn dầu khai quang, lấy nước vẩy vào người hình nhân thiên phủ và bản mệnh, rồi cho sinh nhân rửa mặt và uống 3 ngụm.

Quan đệ nhị, đệ tam cũng vậy.
Quan tuần về làm lễ khai quang dùng chuôi dao hất hình nhân bản mệnh nằm sấp, rồi dựng hình nhân lên quay mặt vào cung thờ. Ngài cầm kéo cắt áo ngục tù, lấy gương, quạt, hương khai quang. Ngài lấy nước tam phủ cho sinh nhân uống, lấy nước rửa mặt, lấy lược chải tóc hoàn hồn, lấy áo cho sinh nhân mặc cho yên bản mệnh. Đưa hình nhân bản mệnh vào lễ tam phủ, sau đó lạy thiên địa thoải. Các quan tiễn đàn.

Nếu đồng nhân xin thuốc Tứ phủ thì hầu chầu Lục, ông Bảy, cô Đôi, cô Bơ, cô Sáu, cô Chín, cô Bé. Cô Đôi hái thuốc, cô Bơ lấy nước, cô Sáu sao thuốc, cô Chín làm thang, cô Bé phù chú. Nếu cầu duyên thì hầu chầu Đệ tam, ông Bơ, cô Bơ, cô Chín. Nếu cầu tài lộc thì hầu chầu Đệ nhị, ông Mười, cô Bơ, cô Bé.
Chú ý các cờ thiên phủ, địa phủ, thoải phủ sau khi làm lễ giải xong thì cắm vào gáy các hình nhân.
Phê sổ thì pháp sư phê như sau “Phật pháp tăng Ngọc Hoàng sắc chỉ. Thiên phủ lệnh hành (địa phủ, thoải phủ) giải oan giải oan kết”. Sau đó quan lớn Ngài phê chứ “ứng” và đè lên là chữ “tâm” của phủ thiên, chữ “chí” hoặc “phúc” của phủ địa, chữ “mệnh” của phủ thoải. Hai bên phê chữ “thập tốc”.
Như vậy ta thấy lễ ở đây rất khác với tứ phủ. Lễ tam phủ dành cho người ốm đau bệnh tật, tiền duyên nghiệp kiếp cả âm lẫn dương còn lễ tứ phủ dành cho người sống lễ căn mạng.

Nếu không có thày đại tấu thì pháp sư làm tất. Nếu có thày đại tấu thì pháp sư lễ và làm việc văn sớ.
Phải có 9 thước vải hồng làm cầu.

Đàn lễ này làm người ta nhầm tưởng là mở phủ nhà Trần nhưng không phải mà ở đây là Ngài về khai giếng ngọc để làm thuốc và chữa bệnh cho sinh nhân (không phải là khai phủ). Đa số trước đây các cụ làm đàn này thương cho sinh nhân đội lệnh nhà Trần kèm theo nên có một số người nhầm tưởng là mở phủ nhà Trần.

Nếu làm lễ tập trung thì phải bày riêng mâm phủ, bát con và hình nhân. Vàng tiến cúng tam phủ ngoài vàng phủ ra còn có thêm 6000 vàng đại thiếc (3000 cho nhà Trần, 1000 cho Ngọc Hoàng, 1000 đương cảnh, 1000 đương niên), 1000 đỏ bản đền, 5000 ba quan, 2000 vàng (Nam Tào tím, Bắc Đẩu đỏ), 1000 vàng ba màu, 1000 vàng bốn màu, 1000 vàng năm màu. Phải có chim, cua, ốc phóng sinh.
Nếu làm ở đền nhà Trần không có bốn phủ phải thiết lập bài vị bốn phủ. Nếu làm ở Kiếp Bạc, Bảo Lộc chỉ được làm ở cung Mẫu và quan Nam Tào, Bắc Đẩu. Đàn lễ này là đàn lễ kết hợp “kim chi” lấy tam phủ và nhà Trần làm chủ đạo. Đàn lễ này nên làm ở các đền thờ kim chi và đền tam phủ Tuần Vường nơi thờ “thiên đại thoải công đồng thánh đế”.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/le-nha-tran.html#ixzz1oFmksdcC

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:46 PM
Đức Thánh Trần

Đức Thánh Trần tức Đức đại vương Trần Hưng Đạo.
Tên húy của Ngài là Trần Quốc Tuấn.
Ngài sinh năm 1232 mất năm 1300.Phụ thân Ngài là An Sinh vương Trần Liễu.
Mẫu thân Ngài là Thiên Đạo quốc mẫu húy Nguyệt.
Phu nhân Ngài là Thiên Thành công chúa.
Trưởng nam là Trần Quốc Nghiễn.
Thứ nam thứ nhất là Trần Quốc Uất.
Thứ nam thứ hai là Trần Quốc Tảng.
Thứ nam thứ ba là Trần Quốc Hiện.
Trưởng nữ là Khuyên Thanh quốc mẫu.
Thứ nữ là Đại Hoàng công chúa.
Nghĩa nữ là Thái Bình công chúa.
Tế tử là Điện tiền tướng quân Phạm Ngũ Lão.
Tả tướng là Yết Kiêu đại tướng.
Hữu tướng là Dã Tượng đại tướng.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/uc-thanh-tran.html#ixzz1oFnm0Lrg

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:48 PM
Hầu nhà Trần

Hầu nhà Trần rất rõ ràng nhưng hiện nay do thiếu hiểu biết và sự hỗn độn của đồng bóng nên hầu nhà Trần bị những kẻ buôn thần bán thánh bóp méo và được biến hiện theo dáng dấp của Tứ phủ. Chúng dùng khăn phủ diện vàng rồi dùng những ngôn từ bịa đặt như trả mã nhà Trần, mở phủ nhà Trần.
Khi hầu ở Kiếp Bạc, Trần Thương, Bảo Lộc thì không được hầu Đức ông đệ tam vì Đức ông đệ tam đã bị Đức đại vương từ và đầy ra Cửa Ông.

Hầu Đức đại vương không được lên đai thượng nhưng hiện nay những kẻ ngu và không hiểu biết cứ cho là làm đúng. Hầu Đức đại vương lên đai thượng, ra oai ầm ầm nhưng đâu biết rằng mình đang diễn trò lố bịch bất kính với thánh. Chỉ có Đức ông đệ tam mới lên đai thượng để tái hiện lại hình ảnh Ngài thác hóa nguyện lấy linh khí để trấn an vùng biển Đông Bắc.

Ta không nên nhầm cái nhầm của các vị rất đơn giản nhưng lại thể hiện bất kính. Đức ông đệ tam ngự áo đỏ nếu các vị đã cho rằng đệ tam phải mặc áo trắng nhưng Ngài là đệ tam trong nhà Trần không phải trong Tứ phủ.

1. Đức thánh cả
Đức thánh cả Ngài về ngự đồng mặc áo đỏ, xuyên hai lình vào má, cắm hai quả cau non trong mồm, vắt chéo lình lên trên, buộc khăn áp vào đầu. Ngài ngự đồng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm. Ngài lấy dấu máu làm bùa trừ tà sát quỷ chữa bệnh (theo tiêu chí chuẩn ngài dùng tay đập vỡ đĩa sành, lấy mảnh sành cắ lưỡi rỏ máu vào giấy bản, vặn lại làm bùa hình người). Trước đây phụ nữ và trẻ con thường đeo bùa sau dải yếm. Khi bị chạm vía, bắt vía thì lấy ra đốt lên hòa vào nước cho uống.
Hiện nay người ta không hầu Đức thánh cả mà Đức đại vương về cũng xuyên lình lấy dấu máu. Thật là không phải đạo. Tại sao lại có cái nhầm đó? Bởi trước đây chư tổ của họ hầu mặc áo đỏ nhà Trần gần như giá nào cũng được phong tước và ngự áo đỏ. Vì lẽ đó rất hay nhầm nên chú ý các thày pháp và cung văn hát.

2. Đức thánh đệ nhị
Đức thánh đệ nhị hiện là Đức ông phó tằng ???? trấn Cao Bằng. Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm lệnh, chuyên việc bắt tà ma, cắm đất tìm cốt và trị trùng.

3. Đức ông đệ tam
Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, đai đỏ, lưng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm, xuyên một lình vào má, căm ột quả cau non trong mồm, một tay đỡ lình ra oai. Sau đó Ngài cởi bỏ đai thượng, dùng hai tay tóm hai đầu đai siết chặt vào cổ. Ngài ngự đồng sát quỷ trừ tà, chữa bệnh.

4. Đức ông đệ tứ
Ít khi giá đồng. Ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm

5. Đệ nhất Khuyên Thanh quốc mẫu
Ít khi ngự đồng. Ngài đi tu ngự áo đỏ

6. Đệ nhị Đại Hoàng công chúa
Tiên cô ngự đồng áo vàng, khăn vàng, lưng đeo cờ kiếm, múa cờ kiếm. Cô về đồng làm lễ khai quang theo phương nghi nữ giới. Cô về chữa bệnh trừ tà sát quỷ.
Hiện nay có một số đồng khi ngự cô về mặc áo màu xanh, nét xanh với lý luận cho rằng cô ở thiên thượng hay hàng đệ nhị thì mặc áo màu xanh. Nhưng cô là con gái thứ hai Đức đại vương thuộc nhà Trần chứ không phải thuộc hàng đệ nhị trong Tứ phủ.

7. Đệ tam Thái Bình công chúa
Một số nơi vùng duyên hải Thái Bình hầu cô Thái Bình công chúa, con nuôi của Đức thánh Trần, cho là ý trung nhân của tướng Trần Bình Trọng. Sự nhầm lẫn đã rất rõ ràng, vì vậy bằng lòng kính thánh và tôn trọng di chỉ tâm linh, các vị nên thay đổi tư duy của mình.

8. Đức ông phò mã
Ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, múa chấp kích hoặc giáo xuyên vào đùi hoặc thanh long đao. Ngài về tiễn đàn nhà Trần.
Sau đó hầu đến hàng lục bộ, đều mặc áo đỏ. Các hàng lục bộ về bắt tà, đi trên than lửa, trên lưỡi cày nung nóng …

Cuối cùng là hầu đến hạ ban Ngũ hổ đại tướng. Bốn ông Xích, Thanh, Bạch, Hoàng ngự về tá khẩu được, riêng ông Hắc Hổ, Ngài hách quá nên không tá khẩu được, phải lấy mâm gạo ra viết chữ. Ngài ngự đồng hiến hương, hiến tửu, hiến đĩa sành, đập đĩa ??? gầm rú khám xét bản đền từ trong ra ngoài, thường được hầu bắt tà và tạ bản đền đóng cửa phong ấn.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/hau-nha-tran.html#ixzz1oFo1R4up

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:49 PM
Hiểu thế nào về tục thờ nhà Trần

Nhà Trần là cách gọi tắt của tục thờ nhà Trần nên người đứng đầu nhà Trần là Đức Thánh Trần, tức là Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, chứ không phải là các vua Trần hay dòng tộc nhà Trần.
Dân ta nhà Trần với ý nghĩa Ngài là đức thánh trấn hộ quốc an dân diệt trừ tà khí.
Từ thời vua Trần đã lập sinh từ thờ sống Ngài. Và đến khi Ngài thác hóa, vua phong là thượng thượng đẳng tối linh. Nhân dân khắp nơi lập tĩnh thờ vị trấn an hộ quốc.

Cổ xưa truyền lại nói rằng sau khi Phạm Nhan bị Ngài chặt làm 3 khúc “phần bỏ giang hà, phần bêu ngọn Sóc, phần bỏ vào lỗ cho cầm thú ăn”, hồn Phạm Nhan lẩn khuất không tan, 3 phần biến thành 3 loài hút máu: loài muỗi, loài đỉa, loài vắt quấy phá quân lính và dân lành. Ngài cho quân và dân chúng rải vôi bột và nước biển tiêu diệt chúng. Lại cho nuôi cóc khắp nơi để diệt muỗi, nuôi cá chép để ăn đỉa. Vì lẽ đó trong nhà Trần còn có bùa cá chép, bùa cóc. Oan hồn Phạm Nhan còn quấy nhiễu khi Ngài thác hóa, nhân dân tôn nhang, đội lệnh, xin dấu của Ngài về trấn tà trị bệnh.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/hieu-nao-ve-tuc-tho-nha-tran.html#ixzz1oFoRXgQl

kieunguyetnga
05-03-2012, 10:50 PM
Hiểu đúng về nhà Trần:


Nhà Trần không phải một phủ. Sự sắp xếp nhà Trần theo gia đình chứ không theo chức tước, hàng bậc như trong Tứ phủ: có vua Mẫu, các Quan, Chúa, Chầu, ông Hoàng, thánh Cô, thánh Cậu.
Tất cả nhà Trần, lục bộ thánh ông đều được phong tước, ngự áo đỏ, riêng cô Đại Hoàng ngự áo vàng, cô Thái Bình ngự áo xanh. Đức đại vương tuyệt đối không lên đai thượng, không múa long đao, đi cờ kiếm từ vào hè trở đi, còn mùa xuân khai đền Ngài đi cờ hồng bằng khăn phủ diện. Đức đại vương không xuyên lình lấy dấu máu. Người thủ nhang đồng đền có căn mới được hầu Ngài chứ không như bây giờ thích hầu là hầu, thật là lỗi đạo, không có phép tắc gì cả.

Hiện nay có người nói là chỉ có sáu vị hầu mà thôi là Đức đại vương, Đức ông đệ tam, cô Đệ nhất, cô Đệ nhị, cô Cửa Suốt, cậu Cửa Suốt. Điều đó thật là nhố nhăng và vô căn cứ. Điều này rất tai hại cho tục thờ nhà Trần. Cứ nghĩ rằng lục bộ là sáu giá, nhưng lục bộ ở đây là lục bộ Đức thánh ông, sáu tướng phù giúp Đức đại vương. Họ cho rằng cô Cửa Suốt là cháu Đức đại vương nhưng cô là người chở thuyền và dắt ngựa cho Đức ông đệ tam. Cậu biển Đông là cháu của Đức đại vương nhưng làm gì có cậu biển Đông. Cậu chỉ là cậu bé bản đền hầu Mẫu ở đền Cửa Ông. Điều nhầm tưởng đến nực cười và lố bịch là người ta quy cô bé cậu bé vào nhà Trần và hầu như hầu Tứ phủ. Giá như có cô bé cậu bé nhà Trần thì các đền các phủ phải thờ cùng, đằng này chẳng một nơi đền thờ điện cổ thờ hai vị này cả. Nếu có đi nữa thì không thể lấy theo tên của Đức ông Cửa Suốt mà là cô Thiên Trường, cậu Bảo Lộc mới đúng. Thực ra hai vị này chỉ là tùy tòng của Đức ông đệ tam không thuộc hệ thống chính của nhà Trần, chỉ được hầu ở vùng Đông Bắc Quảng Ninh. Do thiếu hiểu biết mà truyền bá lung tung. Chúng ta cũng phải hiểu rõ nhà Trần không phải là 1 phủ nên không có Chúa, Chầu, ông Hoàng, cô bé, cậu bé. Cô đệ nhất, cô đệ nhị là theo tên gọi trong gia đình chứ không phải theo tên gọi của Tứ phủ.

Hầu nhà Trần riêng biệt, không phải tráng bóng Tam tòa thánh Mẫu. Hầu nhà Trần đều đi cờ kiếm gọi là cờ kiếm lệnh vua ban “đánh đông dẹp bắc cho an nước nhà”. Chỉ có mình Đức ông phò mã là Điện tiền tướng quân, tức tướng tiên phong, Ngài mới đi chấp kích hoặc đao.

Hiện nay ở đền Kiếp Bạc, Bảo Lộc, đền Trần cho hầu đồng, thậm chí còn thi đồng đều cho hầu cả Tứ phủ. Điều đó là điều kỵ ở các cửa đền nhà Trần. Tôi cũng không hiểu các vị già làng bô lão cũng như các vị đồng thày, đáng trách hơn là các vị làm văn hóa, một di tích quốc gia mà lại làm sai như vậy. Nực cười thay lại tổ chức trình UNESCO công nhận di sản văn hóa trong khi đó chính bản thân các vị chưa hiểu và nghiên cứu chỉn chu nghiêm túc về đồng bóng. Ở Kiếp Bạc, sau khi hầu nhà Trần phải sang bên Nam Tào Bắc Đẩu để hầu Tứ Phủ. Ở Bảo Lộc thì ra hầu Tứ phủ ở ngoài. Tôi đi rất nhiều nơi nhưng nay thấy mẫu ở Đại Lộ là vẫn giữ nguyên lối thờ cổ và lối hầu về nhà Trần mà thôi. Hiện nay người ta hầu nhà Trần chung với Tứ phủ rất lộn xộn.

Nhà Trần thuộc dòng tam phủ: thiên, địa, thoải nên không phỉa mở phủ, nười có căn nhà Trần chỉ cần làm lễ đội lệnh nhà Trần là hầu được, trước nhất chỉ hầu cô đệ nhị Đại Hoàng mà thôi. Quy định 3 năm mới được hầu nhà Trần là sai. Quy định này do cảm hứng tự bịa của các ông đồng bà đồng, vốn dĩ họ chưa nắm chắc các hàng giá nhà Trần thì làm sao mà biết quy định.

Người đội lệnh nhà Trần trước khi mở phủ phải được đội lệnh tại điện thờ nhà Trần, hầu tráng bóng các vị sau đó mới xuống phủ hầu, đến khi hầu tạ là được phép hầu cô đệ nhị Đại Hoàng, từ đó trở đi được hầu Đức thánh ông khác nhưng không được hầu Đức đại vương.

Các quy định mà trở thành buôn bán như bây giờ ở các đền Bảo Lộc, Kiếp Bạc là cấp sắc thanh đồng, người nào cũng đến xin sắc. Tôi không hiểu họ xin về để làm gì. Trước đây các vị nào muốn thờ nhà Trần, muốn hầu nhà Trần thì phải mời pháp sư thảo sắc để vào trong 1000 vàng đại thiếc. Đạo trưởng hầu chư vị đức ông về lấy tay đập nát 1000 vàng ra lấy sắc, pháp sư tuyên đọc sau đó Ngài phê sắc, đặt tên đền điện, đóng dấu cất ấn. Còn bây giờ thì quá lộn xộn. Tâm linh mỗi người một vẻ nhưng tôi khuyên các vị dừng ngay mà phải hiểu đúng lý chứ đừng nghe bọn buôn thần bán thánh mà rước họa vào thân.

Nhà Trần không phải một phủ vì vậy nhà Trần không ai phải trả mã cũng không ai nợ mã nhà Trần cả. Tất cả dâng lễ nhà Trần chỉ có hình thức tiến cúng vàng mã mà thôi. Có thể là chục vàng lá, trăm vàng đại thiếc hoặc có thể là tiểu đàn, trung đàn, đại đàn. Mà tôi cũng nói thẳng là các vị đồng cổ và đồng thày của các thày đồng bây giờ cũng chưa trả mã nhà Trần vì làm gì có mã mà phải trả. Nếu có nó đã là đường mòn phải nhớ ngay, đằng này đều đếm xem bao nhiêu giá rồi phán lung tung không theo quy định nào cả.

Người có căn nhà Trần mới đội lệnh nhà Trần. Người Đinh Nhâm Quý Giáp, người có căn Ngọc Hoàng cầm mệnh, Ngũ vị Tôn quan, lục bộ khâm sai ???. Người hầu nhà Trần đều lập điện lập tĩnh để thờ và chủ yếu là những vị kim chi đôi nước trừ tà trị bệnh cấp sắc làm dấu làm bùa.
Vì vậy hiện nay tất cả những người đồng bóng đều hầu nhà Trần và người ta gọi một cách vô học là “mở phủ nhà Trần”.

Trên đây là một số hiểu biết mà hàng trăm năm nay của chư vị tổ sư cũng như các chư tổ tôi truyền lại vì vậy rất mong chư vị hiểu được, đi theo đúng đường lối, đừng vì cái lộc cái tài mà quên đi nguyên tắc, bất chất mọi lời nói tốt đẹp mà đi theo cái mê hoặc của bọn tà ma buôn thần bán thánh mê tín dị đoan, tài lộc chẳng thấy đâu, chỉ thấy con cháu tù tội, trộm cướp, nghiện hút, rược họa vào thân muôn đời chịu nghiệp.


Nguồn Bài Viết : www.dongaphu.vn - CLB BẢO TỒN PHỤC DỰNG VĂN HOÁ TÂM LINH VÀ ĐẠO MẪU VIỆT NAM THEO LỐI CỔ: http://www.dongaphu.vn/2011/06/hieu-ung-ve-nha-tran.html#ixzz1oFof6Pfd