Đại sư Huệ Năng là ai? Sự tích truyền y bát của Lục Tổ Huệ Năng

Đại Sư Huệ Năng là một trong những vị sư tổ vĩ đại của Thiền Tông, là người đã góp phần tạo nên sự thay đổi lớn cho pháp môn Thiền Tông của Trung Quốc. Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng ông chính là người Việt Nam. Mời các cùng Giác Ngộ Tâm Linh tìm hiểu về vị sư này để xem thực hư ra sao nhé.

Đại sư Huệ Năng là ai? Sự tích truyền y bát của Lục Tổ Huệ Năng
Đại sư Huệ Năng là ai? Sự tích truyền y bát của Lục Tổ Huệ Năng

1. Đại sư Huệ Năng là ai?

Đại sư Huệ Năng là một vị thiền sư vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc, theo sử sách ghi lại ông sinh năm 638 và mất năm 713. Ông chính là vị tổ sư thứ 6 của Thiền Tông, kế tiếp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, được tôn xưng là Lục Tổ Huệ Năng.

Lục Tổ Huệ Năng được xem là người giúp Thiền Tông chuyển mình từ mang đậm phong cách Ấn Độ, sang có những màu sắc riêng của Trung Quốc. Cũng chính vì điều này mà có ý kiến cho rằng Lục Tổ Huệ Năng mới là người khai sáng Thiền Tông Trung Quốc. Trong cuộc đời ông có nhiều học trò xuất sắc như Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng,… Hai vị này đều là những thiền sư dẫn đầu các dòng Thiền Tông về sau, tuy nhiên ông không truyền y bát cho ai, nên không còn ai được xem là truyền nhân chính thức.

Thiền Đốn Ngộ hay còn gọi là Thiền Nam Tông chính là tông phái do Đại Sư Huệ Năng sáng lập. Ngoài ra ông cũng chính là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là “Kinh” chính là bộ Lục tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh. Vì sao nói là duy nhất, vì “kinh” vốn là một bộ sưu tập những lời nói, bài dạy của chính Phật Thích Ca Mâu Ni.

2. Tiểu sử Đại sư Lục Tổ Huệ Năng

2.1. Xuất thân Đại Sư Huệ Năng

Theo lịch sử ghi chép lại Ngài Huệ Năng sanh giờ Tý, ngày 8, tháng 2 năm 638 (Mậu Tuất) tại Tân Châu, Lãnh Nam. Ngài vừa sinh thì có hai nhà sư đến nhà chơi, dùng tên Huệ Năng để đặt cho ông.

Thân phụ Ngài hỏi nguyên nhân thì sư chỉ đáp Nhà sư đáp: “Huệ nghĩa là đem Pháp làm ơn bố thí cho chúng sanh, Năng là nghĩa làm nỗi được việc Phật”. Vì cha Ngài họ Lư, cho nên tên đầy đủ của Ngài là Lư Huệ Năng. Thân phụ Ngài tên đầy đủ là Lư Hành Thao, vốn sinh ra ở đất Phạm Dương làm quan bị giáng chức, phải đi xa xứ đến Lãnh Nam làm thường dân, mẹ Ngài họ Lý. Không may, cha mất sớm, mẹ già, Ngài đi qua xứ Nam Hải, tại đây chịu đủ đắng cay, nghèo đói phải ra chợ bán củi để nuôi mẹ.

Năm Ngài 24 tuổi, một hôm đi giao củi cho người ta thì nghe tiếng tụng kinh Kim Cang, Ngài khai ngộ, liền hỏi người tụng kinh tu ở đâu, người ấy liền trả lời đã tu học với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tại chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, xứ Kỳ Châu. Một người khách giúp đỡ cho ông 10 lạng bạc, bảo dùng tiền ấy xếp đặt việc ăn ở cho mẹ già, rồi tới huyện Hoàng Mai tham lễ Ngũ Tổ.

Tiểu sử Đại sư Lục Tổ Huệ Năng
Tiểu sử Đại sư Lục Tổ Huệ Năng

2.2. Đại sư Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam?

Rất nhiều bằng chứng cho thấy Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam. 

Xét về lịch sử, khi khai quật quần thể hang động Mạc Cao – Đôn Hoàng – tỉnh Cam Túc – Trung Quốc đã thu được nhiều sách vở, nhiều đồ vật lạ chưa từng thấy ở Trung Quốc như tiền kẽm Ba Tư, đồ đồng, đồ gốm, các vật chế từ cỏ tranh, những sách cổ đã thất truyền, đặc biệt là thu được nhiều kinh sách Phật. Trong đó có quyển Pháp Bảo Đàn Kinh, được cho là viết khoảng năm 830 đến 860. Đây được xem là bản kinh cổ nhất so với các bản có trước đó như bản Huệ Hân (967), bản Tào Khê Nguyên Bản của Khế Tung (1054-1056), bản của Tông Bảo (1291).

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, lai lịch của Tổ Huệ Năng (638-713) hiện lên khá rõ: “…Nghiêm phụ của Huệ Năng quê gốc ở Phạm Dương, bị cách chức đày đến Lĩnh Nam, làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại mất sớm, mẹ già đơn chiếc dời đến Nam Hải, gian khó đắng cay, thường ra chợ bán củi…”

“Phạm Dương” ở đây rất có thể là ở tỉnh Hà Bắc của Việt Nam, ngày nay được chia  thành 2 tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh. Đặc biệt “Lĩnh Nam” và “Nam Hải” là 2 vùng đất cũng được ghi nhận trong sử sách Việt Nam.

Như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên có nói đến đất Lĩnh Nam, Nam Hải khi viết về hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị khởi nghĩa như sau: “Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng.”

Ngoài ra trong Việt Sử Tiêu Án cũng xác định đất Lĩnh Nam chính là vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Trong sách cũng nhận định vùng đất này là của ta từ đời vua Hùng, thời Bắc Thuộc bị Tô Định cai quản, về sau Trưng Trắc đã khởi nghĩa giành lại. Tuy nhiên các đời vua sau lại không giữ được, phải lui dần về phương nam. Như vậy có thể nói quê hương của Lục Tổ Huệ Năng chính là ở miền Bắc nước ta thời đó. Huệ Năng là người Việt Nam.

Xét thêm Pháp Bảo Đàn kinh để chứng rõ thêm điều này, có đoạn như sau: “…Huệ Năng sắp xếp cho mẹ mọi việc rồi từ biệt. Không quá 30 ngày đã đến được Hoàng Mai vào bái Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: ngươi là người ở xứ nào? Muốn cầu việc chi? Huệ Năng đáp: Đệ tử là dân ở xứ Tân Châu, Lĩnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu được làm Phật, không cầu việc chi khác. Ngũ Tổ nói: Ngươi là người Lĩnh Nam, ấy là dân mọi rợ sao có thể làm Phật được? Huệ Năng thưa: Người có chia ra nam bắc nhưng tính Phật vốn không có nam bắc. Tấm thân mọi rợ này với thân Hòa thượng tuy có khác, nhưng tính Phật có chi khác biệt?”.

Đại sư Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam?
Đại sư Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam?

2.3. Đạo nghiệp và sự tích truyền Y Bát của Đại sư Huệ Năng

Theo thông kê từ đời Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn phải tìm một người truyền Y Bát, bèn tuyên nói với các học trò của mình, mỗi người hãy viết một bài kệ trình bày kinh nghiệm giác ngộ. Ai giải thích được trọn ý của Phật Pháp sẽ được truyền Y Bát. Lúc này có rất nhiều đệ tử tu học theo Ngài, trong đó phải kể đến vị Đại sư Thần Tú, vốn là người nổi trội nhất trong 11 môn đệ xuất sắc của Ngài.

Vị này mãi đến tuổi 50 mới nghe danh Đại sư Hoằng Nhẫn, nhưng vẫn dám vượt ngàn dặm xa xôi tìm đến, được Ngũ Tổ quý trọng, phân làm Giáo Thụ chuyên giảng dạy cho tăng chúng. Thần Tú viết bài kệ lên hành lang như sau

Thân thị Bồ Đề thụ

Tâm như minh kính đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhạ trần ai

DỊCH:

Thân là cội Bồ Đề

Tâm ấy đài gương sáng

Ngày ngày năng quét lau

Bụi trần không dễ bám

(Nguyễn Cẩm Xuyên dịch)

Ngũ Tổ nghe vậy, dẫu biết bài của ông chưa đạt chưa đạt đến được chỗ quan yếu của đạo, chính là không phân biệt nhị nguyên: tâm thân, không chủ trương hành động theo cách “hữu vi”,.. tức là chưa đạt được “kiến tánh”.

Nhận ra khiếm khuyết ấy, Ngũ Tổ gọi riêng Thần Tú đến để cho biết chỗ chưa đạt và yêu cầu làm lại bài kệ khác. Đáng tiếc qua nhiều ngày, Thần Tú vẫn không làm được bài kệ mới.

Trong đây Pháp Bảo Đàn Kinh cũng nêu rõ một sự kiện khác lạ: Đó chính là tuy không chấp nhận trí huệ của Thần Tú nhưng Ngũ Tổ vẫn hoan hỉ, cho đốt hương lễ kính trước bài kệ và dạy đồ chúng cứ tụng bài kệ ấy về sau sẽ có kiến tính. Người ta thấy rằng tuy rằng ở chốn Thiền Môn thanh tịnh nhưng Ngũ Tổ cũng phải dè chừng những họa hiểm của lòng người.

Huệ Năng đang làm việc trong bếp, khi tình cờ nghe được bài kệ của Thần Tú bèn nhờ người viết lên tường bài kệ của mình:

Bồ Đề bản vô thụ

Minh kính diệc phi đài

Bản lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai

DỊCH:

Bồ Đề chẳng phải cây

Gương kia nào là đài!

Trước sau không một vật

Đâu chỗ lấm trần ai?!

(Nguyễn Cẩm Xuyên dịch)

Đại sư Lục Tổ Huệ Năng
Đại sư Lục Tổ Huệ Năng

Nghe bài kệ này, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn biết căn cơ của Huệ Năng vượt hẳn Thần Tú, nhưng cố tình bôi đi, bảo bài kệ chưa thấy kiến tánh vì sợ Ngài bị hại. Sau đó Lục Tổ gõ lên thành cối đá ba cái rồi bỏ đi, nửa đêm Huệ Năng cũng theo tín hiệu đó canh ba vào thất và được Lục Tổ dạy lại trọn bộ kinh Kim cương. Nói đến câu “Đừng để tâm vướng víu nơi nào”, Huệ Năng thoát nhiên đại ngộ, thưa với Lục Tổ rằng: 

“Đâu ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh.

Đâu ngờ Tự Tánh vốn chẳng sanh diệt.

Đâu ngờ Tự Tánh vốn tự đầy đủ.

Đâu ngờ Tự Tánh vốn chẳng lay động.

Đâu ngờ Tự Tánh hay sanh vạn pháp!”.

Ngũ Tổ nói: “Chư Phật xuất thế là một việc trọng đại, nên tùy theo căn cơ cao thấp khác nhau mà hướng dẫn, cho nên mới có các chỉ ý mười địa, ba thừa, nhanh chậm làm Giáo môn. Nhưng Thế Tôn đã đem pháp môn vô thượng thâm diệu, trong sáng sâu xa là Chánh pháp nhãn tạng chân thực truyền đạt cho đệ tử thứ nhất là Đại Ca-diếp Tôn giả, lần lượt truyền qua 28 đời. Đến Tổ Đạt Ma thì sang tới Đông Độ này, được Khả đại sư nối tiếp đến hôm nay. Nay ta đem Pháp bảo cùng với Cà-sa trao lại cho ông. Hãy khéo giữ gìn, đừng để pháp đứt đoạn”. Rồi đọc kệ truyền pháp:

Hữu tình lai hạ chủng

Nhân địa quả hoàn sinh

Vô tình ký vô chủng

Vô tính diệc vô sanh.

DỊCH:

Hữu tình đến gieo mầm

Nhờ đất trái nẩy sinh

Vô tình đã không giống

Không tính cũng không sinh.

Sư quỳ xuống nhận y và pháp, nói: “Pháp, con đã nhận, còn y sẽ trao cho ai?”.

Tổ nói: “Xưa, lúc đầu Tổ Đạt Ma đến đây, vì chưa ai tin nên phải truyền y làm biểu minh đắc pháp. Nay tín tâm mọi người đã muồi, chiếc y sẽ là đầu mối tranh giành. Vậy nên đến ông thì dừng lạy không truyền nữa. Ông nên đi xa ẩn lánh, đợi thời cơ mà hành đạo, bởi lẽ người nhận y, mạng như tơ mành”.

Sư hỏi: “Nên ẩn nơi đâu?”,

Tổ nói: “Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn”. tức là muốn khuyên sư đi về phương Nam.

Khi tiễn sư xuống thuyền, Tổ muốn tự chèo đưa sư sang sông, sư bèn nói: “Khi mê thầy độ, ngộ rồi tự độ” và tự chèo qua sông.

Huệ Năng đi 2 tháng thì đến núi Đại Dữu, lại đi tiếp đến Tào Khê,… Vẫn bị ác nhân săn đuổi, Huệ Năng lại đến đất Tứ Hội ẩn mình sống chung với đám thợ săn, mãi 15 năm sau mới đến chùa Pháp Tánh đưa Y Bát ra để định danh và bắt đầu giảng kinh truyền đạo pháp.

Theo tác giả Nguyễn Minh Tiến, trong thời gian ẩn cư Huệ Năng có thể đã cư trú trên đất Việt Nam. Bằng chứng là ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức nước ta, ngày này là lành Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có chùa Lục Tổ. Ngôi chùa này về sau gọi là chùa Cổ Pháp là nơi sư Vạn Hạnh đời Lý đã tu tập. Lúc đắp nền chùa người ta đào được một cái lư hương và mười cái khánh. Những vật phẩm này vốn là của một ngôi tổ đình cổ đã có từ rất lâu, có thể đây chính là ngôi chùa Lục Tổ Huệ Năng đã tu.

Nguyễn Minh Tiến cũng đưa ra một chứng cứ khác là trong quyển Thiền Uyển tập anh có chép việc Trưởng lão La Quý (852-936) cho đúc một pho tượng Lục Tổ bằng vàng. Điều này chứng minh hình ảnh Lục Tổ Huệ Năng đã ăn sâu trong tâm thức của người Việt Nam.

Đạo nghiệp và sự tích truyền Y Bát của Đại sư Huệ Năng
Đạo nghiệp và sự tích truyền Y Bát của Đại sư Huệ Năng

2.4. Sự nghiệp hoằng pháp của Đại sư Huệ Năng

Cuộc đời hoằng pháp của Ngài đã giúp cho Thiền Nam Tông phát triển mạnh mẽ, không ngừng. Sau suốt 15 năm ẩn cư, Sư đã đến chùa Pháp Tĩnh ở Quảng Châu. Lúc bấy giờ, sư bị Ấn Tống phát hiện ra thân phận, Ngài Huệ Năng cũng nhận, đưa y bát ra cho đại chúng chiêm ngưỡng. Ấn Tống cho người xuống tóc cho sư vào ngày 15 tháng giêng. Đến ngày 8 tháng 2, Sư Trí Quang Luật của chùa Pháp Tính đứng ra làm lễ thọ túc cho Đại sư Huệ Năng. Sau khi thọ cụ giới túc xong, Ngài ở lại chùa Pháp Tính để giảng pháp của Thiền Tông. Đồ chúng cũng theo học ngày một đông. Từ đây Lục Tổ Huệ Năng lập thành Thiền Tông ở phương nam gọi là Nam Tông, chủ trương theo tư tưởng “Đốn ngộ” khác hẳn với đường lối “Tiệm ngộ” của Bắc Tông ở phương bắc do Thần Tú sáng lập, tàn lụi chỉ sau vài đời.

Một năm sau đó, ngày 8 tháng 2, Sư nói với môn nhân: “Ta không định lưu tại đây mà muốn trở về nơi ẩn khi xưa”. Ấn Tông cùng hàng nghìn người có cả tăng lẫn người thường đều làm lễ, tiễn sư trước khi về chùa Bảo Lâm. Quan Thứ Sử Thiều Châu tên là Vi Cứ nghe danh bèn mời thỉnh Đại sư Huệ Năng đến chùa Đại Phạn thuyết giảng pháp vi diệu và thọ giới vô tướng tâm địa. Môn đồ của Ngài là Pháp Hải Thiền sư biên chép buổi pháp thành sách gọi là Đàn Kinh, truyền bá rộng rãi trong đời.

Sau đó, Đức Lục Tổ Huệ Năng lại quay trở về Tào Khê, tiếp tục công việc giảng dạy Pháp môn Đốn Ngộ. Đến vua Võ Tắc Thiên cũng đã từng sai Tiết Giản đem thư chiếu đến mời Lục Tổ Huệ Năng vào cung để thuyết pháp, nhưng Ngài đã dâng thư từ chối, khất từ vì đau yếu, nói rõ nguyện chung thân ở nơi rừng núi.

Vua nghe vậy liền sai Tiết Giản đến gặp Lục Tổ Huệ Năng hỏi đạo rồi nói lại cho vua nghe. Khi Tiết Giản nghe sư nói pháp liền đại ngộ, từ biệt về triều, dâng thư tâu rõ những lời sư dạy với vua. Võ Tắc Thiên liền hạ chiếu kính tạ và cúng dường cà-sa ma nạp rất quý và 500 xấp lụa, một chiếc bát vàng.

Xem thêm: Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ là ai?

Sự nghiệp hoằng pháp của Đại sư Huệ Năng
Sự nghiệp hoằng pháp của Đại sư Huệ Năng

Đầu niên hiệu Tiên Thiên, Lục Tổ Huệ Năng nói với đại chúng: “Ta nhận y – pháp của Nhẫn đại sư, nay vì các ông mà nói pháp, nhưng không truyền lại y. Ấy cũng vì gốc tin các ông đã đủ, cứ nhất định chẳng nghi là đã đủ xác nhận sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của ta”. Và đọc kệ:

Tâm địa hàm chư chủng

Phổ vũ tất giai sanh

Đốn ngộ hoa tình dĩ

Bồ-đề quả tự thành.

DỊCH:

Đất tâm dung các giống

Mưa khắp tất nẩy sanh

Đốn ngộ – hoa bừng nở

Bồ-đề quả tự thành.

Nói kệ xong, Lục Tổ Huệ Năng bảo:

“Pháp này không hai, tâm ấy cũng như vậy. Đạo ấy thanh tịnh cũng không có các tướng. Các ông chớ nên chấp quán tịnh và ngoan không cái tâm. Tâm vốn đã tịnh, không thể giữ – bỏ. Mọi người hãy gắng lên, tùy duyên mà đi tới!”.

Niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai, mùng 1 tháng 7, Sư bảo các đệ tử răng: “Ta muốn về Tân Châu, các ông mau chuẩn bị thuyền”. Nghe vậy, ai ai cũng buồn bã, quyến luyến cầu xin Ngài ở lại. Huệ Năng liền nói: “Chư Phật ra đời vẫn phải thị hiện vào Niết bàn. Có đến ắt có đi, lẽ thường là vậy. Hình hài này của ta tất cũng phải có chỗ quay về”.

Đại chúng bèn nói: “Sư ra đi, xin mau mau trở lại”. Sư đáp: “Lá rụng về cội, ngày trở lại không nói được”. Chúng lại hỏi: “Pháp nhãn của thầy, truyền lại cho người nào?” Sư nói: “Có đạo thì được, vô tâm thì thông”. Chúng hỏi: “Sau này có nạn gì không?” Sư nói: “Sau khi ta tịch diệt năm sáu năm, sẽ có người đến lấy đầu ta!”. Rồi nói: khi ta tịch diệt 70 năm sẽ có hai Bồ-tát từ phương Đông tới, một tại gia, một xuất gia. Cả hai cùng dựng lập pháp ta, làm hưng thịnh tông phái ta! (tức là Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất và cư sĩ Bàng Long Uẩn sau này)

Ngày mùng 3 tháng 8 năm ấy, sư đến chùa Quốc Ân ở Tân Châu, tắm rửa xong vào ngồi xếp bằng an nhiên thị tịch. Ngày 13 tháng 11, mọi người cùng đưa sư đến nhập tháp tại nơi này, thọ 76 tuổi. Vua Đường Hiến Tông thụy tặng sư là Đại Giám Thiền Sư. Tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu.

Giác Ngộ Tâm Linh vừa giới thiệu đến các bạn về một vị thiền sư vĩ đại. Đó chính là Đại Sư Huệ Năng. Ngài là tấm gương sáng cho các đệ tử Thiền Tông nói riêng và Phật Giáo nói chung nên học hỏi. Hy vọng câu chuyện về Ngài đã truyền cho quý Phật Tử nhiều nguồn cảm ứng hơn trên con đường tu học.